Một số lưu ý khi sử dụng Vitamin B12 trong điều trị – HỘI DƯỢC HỌC TP. HỒ CHÍ MINH

Skip to content

1. Thuật ngữ “vitamin B12” là để chỉ một nhóm hợp chất chứa cobalt, được gọi là các cobalamin. Cyanocobalamin và hydroxocobalamin là các dạng không có hoạt tính dược lý của vitamin B12 được sử dụng trong điều trị, sau khi vào cơ thể chúng sẽ được chuyển hóa thành các dạng có hoạt tính. Một dạng có hoạt tính của B12, gọi là methylcobalamin, cũng được sử dụng trong điều trị.

Lưu ý khi sử dụng vitamin B12 trong điều trị

2. Cyanocobalamin được dùng ở dạng uống và tiêm bắp, trong khi hydroxocobalamin và methylcobalamin chỉ được sử dụng ở dạng tiêm bắp.

3. Hydroxocobalamin có hoạt tính tương tự cyanocobalamin, ngoại trừ việc nó làm duy trì nồng độ vitamin B12 trong máu lâu hơn và có thời gian tác dụng dài hơn so với cyanocobalamin.

4. Một điều lưu ý là sự hấp thu vitamin B12 ở dạng uống tại ruột phụ thuộc vào “yếu tố nội” – một glycoprotein được tiết ra bởi tế bào thành dạ dày. Trong những trường hợp như bệnh thiếu máu ác tính hay phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ dạ dày, việc bổ sung vitamin B12 nhất thiết phải bằng đường tiêm (tiêm bắp).

5. Lưu ý vitamin B12 có thể che dấu sự thiếu hụt acid folic, cần xác định xem bệnh nhân có thiếu acid folic đồng thời hay không.

6. Dung dịch tiêm B12 có sự tương kị vật lý với một số chế phẩm khác, bao gồm dung dịch glucose, và dung dịch acid mạnh hoặc dung dịch kiềm. Dung dịch B12 cần tránh ánh sáng, và không nên làm lạnh hay để đông dung dịch.

7. Nên tránh dùng thuốc dạng uống liều cao vì thuốc có xu hướng bị thải loại thông qua sự bài tiết. Liều cao vitamin B12 có thể làm hạ kali máu, theo dõi nồng độ kali máu trong 48 giờ đầu tiên sau khi dùng thuốc và có thể bổ sung kali nếu cần thiết.

8. Vitamin B12 chống chỉ định ở bệnh nhân dị ứng với cobalt. Rượu, aminosalicylic acid, neomycin và colchicine có thể làm giảm hấp thu vitamin B12 đường uống.

DS. Phạm Công Khanh (lược dịch).