CÁC NHÓM THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP – HỘI DƯỢC HỌC TP. HỒ CHÍ MINH

Tăng huyết áp là bệnh lý mạn tính và thường được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”, do đó bệnh nhân cần phải được theo dõi đều đặn và điều trị lâu dài. Vì vậy việc lựa chọn các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp là hết sức quan trọng để không những đảm bảo hiệu quả mà còn phù hợp với tuân trị của bệnh nhân trong thời gian dài.

Các lựa chọn đầu tay trong điều trị tăng huyết áp: (1,2)

  • Thuốc lợi tiểu thiazide và thiazide-like
  • Thuốc chẹn kênh canxi (CCB)
  • Thuốc ức chế men chuyển (ACEi)
  • Thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) .
  • Thuốc chẹn beta (7,8)

Bên cạnh đó thuốc chẹn beta (BB) được khuyến cáo bắt buộc khi bệnh nhân có suy tim, đau thắt ngực, rung nhĩ, phụ nữ có thai hoặc bệnh nhân cần kiểm soát tần số nhịp.

1. Nhóm thuốc ức chế hệ thống renin – angiotensin – aldosterone (RAAS)

  • Thuốc ức chế men chuyển (captopril, lisinopril, ramipril, perindopril,…)
  • Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II (losartan, valsartan, telmisartan, azilsartan,…)
  • Thuốc ức chế renin trực tiếp- DRIs (aliskiren)

ACEi, ARB là những nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp đầu tay có tác dụng mạnh, hiệu quả, phần lớn an toàn và còn được chỉ định ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim/suy tim phân suất tống máu giảm. Đây là nhóm thuốc hạ áp duy nhất có bằng chứng giúp làm giảm nguy cơ bệnh thận mạn giai đoạn cuối và làm giảm tiến triển suy thận.

Nhóm thuốc ACEi thường được dung nạp tốt nhưng có 2 tác dụng phụ nổi bật là tăng kali máu và ho khan, ARBs được coi là thuốc thay thế vì tỷ lệ ho ít hơn.

Nhóm thuốc ARB có tác dụng trong 24 giờ với 1 liều dùng một lần mỗi ngày (trừ losartan). Thuốc ARB có một số tác dụng phụ tương tự ACEi như tăng kali máu, tụt huyết áp. Phù mạch là một tác dụng phụ hiếm gặp nhưng nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong. So với ACEi, các ARB ít gây phù mạch hơn.

Các thuốc RAASi chống chỉ định cho phụ nữ có thai, tăng kali máu, hẹp động mạch thận hai bên và cân nhắc sử dụng ở phụ nữ cho con bú.

2. Thuốc chẹn kênh calci (CCB)

  • Nhóm dẫn chất dihydropyridin – DHP (amlodipine, felodipine, nifedipine, nicardipine,…)
  • Nhóm dẫn chất không dihydropyridin – non DHP (verapamil, diltiazem)

Các CCB-DHP là thuốc hạ áp được dùng phổ biến hơn trong điều trị tăng huyết áp và điều trị đau thắt ngực ổn định mãn tính hoặc đau thắt ngực Prinzmetal. Nifedipine ER là điều trị đầu tay cho bệnh nhân tăng huyết áp mang thai.

Do tác dụng gây giãn mạch ngoại vi của CCB-DHP, dẫn đến các tác dụng phụ thường gặp là nhịp tim nhanh, đỏ bừng mặt, phù ngoại biên… CCB-DHP chống chỉ định ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh, suy tim (EF giảm, độ II-III/NYHA), tiền sử phù chân nặng.

Các CCB-non DHP chủ yếu được sử dụng để kiểm soát nhịp tim và đôi khi được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp, đau thắt ngực ổn định mãn tính hoặc để giảm protein niệu. Tác dụng phụ thường gặp là táo bón, chậm nhịp tim và giảm cung lượng tim. Do đó, không nên dùng ở bệnh nhân đang điều trị với chẹn beta adrenergic (BB), nhịp tim chậm < 60 lần/phút, bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm, hội chứng nút xoang bệnh lý hay block nhĩ thất độ II-III.

3. Thuốc lợi tiểu

  • Lợi tiểu Thiazide hoặc giống Thiazide (bendroflumethiazide, chlorthalidone, hydrochlorothiazide, indapamide, metolazone)
  • Lợi tiểu quai (furosemide, bumetanide, torsemide, ethacrynic acid)
  • Lợi tiểu tiết kiệm kali (amiloride, eplerenone, spironolactone, triamterene)

Các nhóm thuốc lợi tiểu nên được sử dụng vào buổi sáng để tránh tiểu đêm.

Lợi tiểu thiazide hoặc giống thiazide là lựa chọn đầu tay trong điều trị tăng huyết áp và thích hợp cho hầu hết bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ/trung bình với chức năng thận và tim bình thường. Thuốc cũng làm tăng acid uric máu nên chống chỉ định cho bệnh nhân gout. Ở bệnh nhân có GFR